Nhân ngày Quốc tế Phụ nữ, HL xin chúc các mẹ, các bác, các chị, các bạn và các em sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt !
Mọi thứ trong cuộc đời đều có giá của nó. Muốn nhận thì phải cho, muốn thành công và hạnh phúc thì phải trả giá bằng nỗ lực và cố gắng
Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015
Chúc mừng ngày Quốc tế phụ nữ
Nhân ngày Quốc tế Phụ nữ, HL xin chúc các mẹ, các bác, các chị, các bạn và các em sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt !
Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015
Valentine của anh
Với em, anh muốn
mãi tình nhân
Vĩnh cửu tình ta
mãi mát lành
Như giọt sương mai
xanh lấp lánh
Dưới ánh mặt trời
mãi mãi xuân.
Valentine, 14/02/2015
Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015
Xa rồi..!
Nhân dịp Xuân về và Valentine, xin chúc chị em Phụ nữ
thật hạnh phúc!
Nhớ em, thức suốt canh thâu
Bồi hồi, thổn thức buồn rầu em ơi!
Xa rồi - Mỗi đứa mỗi nơi
Em thì phương Bắc, anh trời phương
Nam.
Ngậm ngùi giọt lệ chứa chan
Nỗi niềm thương nhớ quan san đợi
chờ.
Để rồi... viết dở câu thơ
Tháng năm xa cách, ai ngờ... tình
duyên..?
* * *
Em là cô gái thuyền quyên
Quên làm sao được những đêm hẹn hò
Vượt qua bao sóng gió to
Cùng nhau hẹn ước bến bờ tình yêu.
Giờ như dây đứt cánh diều
Em ơi, nỗi nhớ những chiều hoàng
hôn..!
Nhớ em, dòng lệ trào tuôn
Ở nơi xa ấy, có buồn không em?
* * *
Mưa rơi lã chã bên thềm
Mà lòng trĩu nặng càng thêm nỗi sầu
Những ngày hạnh phúc còn đâu
Nhờ không gian ảo bắc cầu tình yêu.
Thương em, càng nhớ em nhiều
Những đêm hò hẹn, những chiều bên
nhau!
Cuộc đời dù có buồn rầu
Em ơi, ta mãi thương nhau mặn nồng!
Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014
Đông sang
Đông sang...
Buâng khuâng giọt
nắng hanh hao
Hoàng hôn chầm chậm, xuyến xao cỏi lòng
Lạnh lùng, trời đã sang đông
Hoàng hôn chầm chậm, xuyến xao cỏi lòng
Lạnh lùng, trời đã sang đông
Người xưa thương nhớ, vẫn mong, đợi
chờ.
Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014
Hội ngộ 60 năm trường HSMN trên đất Bắc
Hơn 20 năm, kể từ 1954 đến 1975, 28 trường học sinh miền Nam (HSMN) nội trú
được thành lập với gần 4 vạn học sinh là con em đồng bào miền Nam thuộc nhiều
dân tộc từ Bến Hải đến Cà Mau được học tập, rèn luyện trưởng thành từ những mái
trường trên miền Bắc.
Cuộc hội ngộ để kỷ niệm 60 năm trường HSMN trên đất Bắc là dịp để tri ân các Thầy-Cô-Chú và đồng bào miền Bắc đã cưu mang, đùm bọc, nuôi dưỡng HSMN trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh. Đồng thời, đây là dịp để đánh giá những cống hiến, rút ra những bài học kinh nghiệm về đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước; cũng là dịp để Thầy-Trò, anh chị em trao đổi tình cảm sau bao năm xa cách. Cuộc hội ngộ thật là cảm động, bùi ngùi, xao xuyến. Cho dù "Nước mắt dành cho ngày gặp mặt", nhưng cũng rất đỗi tự hào, hạnh phúc. Gặp lại nhau cho dù nay đầu đã bạc, răng đã long; nay thành cụ, thành ông, thành bà nhưng cái "chất HSMN" vẫn còn theo ta đi hết cuộc đời!
Xin giới thiệu với các bạn một số ít hình ảnh:
Một số hoạt động
Vào Lăng viếng Bác
Một số hình ảnh ghi dấu kỷ niệm
Phủ Chủ tịch
Tòa nhà Quốc hội
Ao cá và nhà sàn của Bác
Trung tâm hội nghị Quốc gia - Mỹ Đình, Hà Nội
Bữa cơm thân mật do Thành ủy HN chiêu đãi
Ngày ấy đâu rồi...? Cho ai tìm lại...
(hình ảnh chụp được khi dạo chơi bên hồ Hoàn Kiếm)
Trên đường trở về Nam: Tháp đèn chim Lạc (Thanh Hóa)
Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014
“Hạt giống đỏ miền Nam”
(Bác Hồ về thăm HSMN ở Hải Phòng)
"Hạt giống đỏ miền Nam"
(Bài được đăng trên Báo GD&TĐ số đặc biệt cuối tháng 12/2014)
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết năm 1954, đất nước ta tạm thời chia làm 2 miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến hành công cuộc xây dựng CNXH; miền Nam còn phải đấu tranh đòi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phải thi hành Hiệp định Giơnevơ để sau 2 năm tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ đã thực hiện âm mưu chiếm đóng lâu dài miền Nam. Vì vậy, Cách mạng Việt Nam phải thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Hiện tượng lịch sử đặc biệt về giáo dục
Để thực hiện chiến lược con
người, Bác Hồ và TW Đảng ta đã có chủ trương đưa con em cán bộ miền Nam ra miền
Bắc để đào tạo, chuẩn bị một đội ngũ cán bộ phục vụ cho cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước và chấn hưng đất nước sau khi thống nhất. Đây là một chủ trương hết
sức đúng đắn, vô cùng sáng suốt với tầm nhìn chiến lược về việc chuẩn bị lực
lượng lâu dài cho cách mạng miền Nam trong kháng chiến cũng như sau khi thống
nhất đất nước của Bác Hồ và Trung ương Đảng ta.
Trong hơn 20
năm, kể từ 1954 đến 1975, 28 trường học sinh miền Nam (HSMN) nội trú được thành
lập với gần 4 vạn học sinh là con em đồng bào miền Nam thuộc nhiều dân tộc từ
Bến Hải đến Cà Mau được học tập, rèn luyện trưởng thành từ những mái trường
trên miền Bắc. Đó là chưa kể do chiến tranh ác liệt, một số HSMN không học tập
trung trong các trường nội trú mà theo học các trường khác trên khắp các tỉnh,
thành phố miền Bắc, nhưng vẫn hưởng chế độ HSMN.
Mô hình trường HSMN trên đất Bắc
được đánh giá như một hiện tượng lịch sử đặc biệt về giáo dục. Trường HSMN là
loại hình trường nội trú, đào tạo học sinh một cách toàn diện: đức, trí, thể, mỹ; thực hiện nguyên lý
giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn nhằm đào tạo
con người "vừa hồng, vừa
chuyên" như Bác Hồ đã dạy.
Đặc biệt, các trường HSMN có đội
ngũ cán bộ, giáo viên được tuyển chọn, có chuyên môn vững vàng, tâm huyết với
nghề nghiệp, giàu lòng nhân ái, hết lòng vì học sinh thân yêu. Họ coi học sinh
như con em của mình và coi việc chăm sóc, dạy bảo các em học sinh miền Nam là
vinh dự, trách nhiệm và lương tâm đối với đồng bào miền Nam đang chiến đấu, hy
sinh ngoài mặt trận để giành độc lập cho dân tộc, cho sự thống nhất Tổ quốc.
Học sinh miền Nam coi nhà trường là mái ấm tình thương, thầy cô và những người
phục vụ như cha mẹ, người thân trong gia đình; họ sống trong tình cảm chân
thành, yêu thương, đùm bọc giữa thầy-trò và nhân dân miền Bắc.
Sẳn sàng đi theo tiếng gọi Tổ quốc
Sẳn sàng đi theo tiếng gọi Tổ quốc
HSMN coi việc học, rèn luyện là
nhiệm vụ, trách nhiệm trước đồng bào của mình đang chiến đấu hy sinh ở quê
hương để cho họ được học tập, rèn luyện. Chính vì vậy, HSMN giàu tình cảm, giàu
lòng nhân ái, trọng tình bạn, đoàn kết, thực hiện kỷ luật nghiêm, gắn bó keo
sơn và trung thành với Đảng, sẳn sàng đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần. Những
phẩm chất đó được hình thành từ mái trường, từ tình thương yêu của Đảng, Bác Hồ
và đồng bào; là động lực giúp họ vượt qua mọi thử thách, học tập giỏi, rèn
luyện tốt để xứng đáng với những tình cảm mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân đã giành
cho họ. Đúng như nhận định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh
Hiển trong bài diễn văn Kỷ niệm 50 năm thành lập trường HSMN trên đất Bắc:
"Trường HSMN là cái nôi bồi dưỡng
chủ nghĩa nhân văn cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu CNXH; tình cảm gắn bó với
Đảng và một lòng, một dạ bảo vệ Đảng; tinh thần đòan kết, thương yêu đồng chí,
đồng nghiệp; tinh thần say mê học tập, cầu tiến bộ; đức hy sinh quên mình...
"
Xuất phát từ tình cảm thiêng
liêng đối với đồng bào miền Nam, hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng
bào miền Bắc đã nhường cơm, sẻ áo, đùm bọc, chắt chiu, nuôi dạy những người con
của đồng bào miền Nam với khẩu hiệu : "tất
cả vì miền Nam ruột thịt" như là một mệnh lệnh, lương tâm và trách
nhiệm ! Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên động lực mạnh mẽ thôi thúc HSMN học
giỏi, rèn luyện tốt; tạo nên phẩm chất tốt đẹp trong mỗi người HSMN trước những
khó khăn thách thức.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông,
phần lớn HSMN đã được tiếp tục đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp trong và ngoài nước. Một số theo tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước" trở về miền Nam để trực tiếp chiến đấu giải phóng quê hương. Trong
số đó, rất nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, những nhà văn,
nhà thơ, những nhà chính trị, kinh tế... góp phần cho sự nghiệp kháng chiến và
kiến quốc. Và cũng rất nhiều anh chị đã anh dũng hy sinh trên chiến trường miền
Nam.
Đặc biệt, sau ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng 30/4/1975, hầu hết HSMN đều trở về để xây dựng quê hương, tham
gia trên mọi lĩnh vực công tác. Nhiều HSMN đã trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp,
cán bộ nòng cốt trong các cơ quan Đảng, Chính quyền, Đoàn thể, các cơ sở khoa
học, kinh tế- xã hội từ Trung ương đến địa phương.
Bài học từ mô hình giáo dục trường HSMN
Bài học từ mô hình giáo dục trường HSMN
Qua nhiều cuộc hội thảo kỷ niệm 60 năm trường HSMN trên đất Bắc, đã rút ra những bài học kinh nghiệm. Đó là
bài học về chiến lược đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho
mục tiêu lâu dài của cách mạng; bài học về giáo dục tòan diện, học đi đôi với
hành, nhất là giáo dục về lý tưởng, về phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái; bài
học về xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất chính
trị cao, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đặc biệt là lương tâm, trách
nhiệm đối với thế hệ trẻ; bài học về xây dựng mô hình trường nội trú, về phát
huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong họat động giáo dục; bài
học về xã hội hóa giáo dục...
Những bài học đó, nay vẫn còn
nguyên giá trị và cần phát huy mạnh mẽ, sáng tạo trong nhà trường, trong họat
động giáo dục.
Nhìn lại 60 năm qua, những HSMN năm
xưa nay hầu hết đã già, đã nghỉ hưu, nhiều người đã chiến đấu hy sinh trên mặt
trận, nhưng dù ở lĩnh vực nào, cuộc đời của họ luôn trung thành với Đảng, gắn
bó với nhân dân; sống có nghĩa, có tình, có trước, có sau; luôn biết ơn thầy cô, nhân
dân miền Bắc đã thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục, cưu mang trong những năm
tháng chiến tranh ác liệt. Dù ở cương vị nào, họ luôn luôn phát huy bản chất,
truyền thống tốt đẹp của mình, đóng góp sức lực, trí tuệ, kinh nghiệm trên tất
cả các lĩnh vực trong công cuộc kháng chiến cũng như xây dựng đất nước sau ngày
miền Nam hoàn toàn giải phóng. Họ luôn luôn xứng đáng danh hiệu "hạt giống đỏ" của cách mạng mà
Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã gieo trồng./.
Hiền Lương
(12/2014)
Hiền Lương
(12/2014)
Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014
Vịnh hồ thu
Bàng bạc sương
giăng kín mặt hồ
Lưa thưa liễu rũ buông mành tơ
Gió đưa gờn gợn, lăn tăn sóng
Một thoáng thu về, sao ngẩn ngơ..?
Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014
Hãy cuốn xéo mau, chớ cắn càn!
Lãnh thổ thiêng liêng của nước Nam
Lũ quân bành trướng lắm tham tàn
Biển đông chúng muốn ao nhà hắn
Miệng cứ hô vang "Tám chữ vàng".
Lũ quân bành trướng lắm tham tàn
Biển đông chúng muốn ao nhà hắn
Miệng cứ hô vang "Tám chữ vàng".
Lịch sử ngàn năm dân nước Việt
Chôn vùi xâm lược quân ngoại bang.
Này, này ta bảo cho mà biết:
Hãy cuốn xéo mau, chớ cắn càn!
(Ảnh tư liệu trên Internet)
Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
Những ngày gần đây, Biển Đông lại dậy sóng với sự
ngang ngược của Trung Quốc khi đưa giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang
Shiyou-981) vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, nhiều
học giả trong nước và quốc tế đã đưa ra những bằng chứng lịch sử khẳng định chủ
quyền không thể chối cãi của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
HL sưu tầm và giới thiệu với các bạn bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Minh (Phòng
Khoa học Quân sự, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Quốc phòng) về vấn đề này.
Tập Atlas Thế giới của nhà địa lý học kiệt xuất người
Bỉ Philippe Vandermaelen (1795–1869), thành viên Hội địa lý Paris, được xuất
bản năm 1827 khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Chủ quyền không thể chối cãi
Việt Nam là quốc gia duy nhất có những dữ kiện địa lý,
bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý quốc gia và quốc tế để xác lập chủ quyền và
khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một quốc gia khi xác lập chủ quyền đối với một vùng
lãnh thổ phải thể hiện đầy đủ tính chất về mặt nhà nước. Có nghĩa là, nhà nước
đó có ban hành văn bản, chính sách và tổ chức quản lý hành chính vùng lãnh thổ
đó hay không khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia hay vùng lãnh
thổ nào, đồng thời cách thức xác lập chủ quyền phải được thực hiện bởi tổ chức
hành chính trực thuộc nhà nước.
Xét về khía cạnh này, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khu
vực Biển Đông đáp ứng đầy đủ tính chất về xác lập chủ quyền và khẳng định chủ
quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Quá trình hoạch định và triển khai chính sách về biển
của Nhà nước Việt Nam qua các triều đại phong kiến đã được thể hiện rõ nét
trong suốt mọi giai đoạn lịch sử, nội dung đó đã hình thành và liên tục được kế
thừa phát triển qua các thể chế nhà nước.
Đặc biệt, trong chính sách về biển đảo qua các triều
đại đều có nội dung khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việt Nam
trong thời kỳ Lê-Trịnh (1592-1788), đã chứng kiến sự mở rộng lãnh thổ xuống
phía Nam
của nhà Nguyễn ở Đàng Trong. Trong thời kỳ này, chủ quyền của Việt Nam đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được xác lập và đi vào quản lý, khai thác
một cách đồng bộ vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự.
Tuy nhiên, do vấn đề lịch sử để lại, chủ quyền của Nhà
nước Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông đã bị một
số quốc gia trong khu vực bất chấp những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc
tế và nội dung của Hiến chương Liên hợp quốc cũng như những quy định của Luật
Biển quốc tế đã xâm chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa và một số đảo đá thuộc
quần đảo Trường Sa của Nhà nước Việt Nam.
Điều này, đã dẫn đến hệ quả là cuộc đấu tranh trên các
phương diện bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý quốc tế, luật pháp quốc gia và
phương diện ngoại giao nhằm khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài nhưng oanh liệt,
khó khăn và rất phức tạp.
Quốc tế thừa nhận
Thực tế cũng cho thấy, một số hội nghị quốc tế diễn ra
trong thế kỷ XX, đã đương nhiên thừa nhận chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1943, bối cảnh chung của thế giới có nhiều diễn
biến phức tạp, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bước vào giai đoạn khốc
liệt nhất. Để xem xét một số vấn đề quan trọng của thế giới có liên quan đến
biên giới lãnh thổ, đại diện ba nước Anh, Mỹ và Trung Quốc (Cộng hòa Trung Hoa)
đã nhóm họp tại Cairo (Ai Cập) ngày 27/11/1943, mà lịch sử gọi là Hội nghị tam
cường Anh-Mỹ-Trung.
Hội nghị này kết thúc đã đưa ra được Tuyên bố chung,
trong tuyên bố có đoạn viết: “Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở
Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc Chiến tranh
Thế giới lần thứ nhất năm 1914, và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của
Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa
Trung Hoa.”
Như vậy, lãnh thổ của Trung Quốc đã được phân định rõ,
không có gì liên quan đến chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngoài ra, Tuyên bố Cairo đã không đề cập đến chủ quyền
của quốc gia nào đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì hai quần đảo này
đã thuộc chủ quyền của Nhà nước Việt Nam từ lâu, ít nhất là từ thế kỷ XVII đã
có những chứng cứ lịch sử chứng minh chủ quyền thuộc về Nhà nước Việt Nam.
Tiếp đến, vào năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới lần
thứ hai dần dần đi vào kết thúc, thế giới có nhiều việc phải làm đối với các
cường quốc thắng trận như vấn đề lãnh thổ, phân chia phạm vi ảnh hưởng…
Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc ở mặt trận châu Âu,
tháng 7/1945, đại diện ba nước lớn là Anh, Mỹ và Liên Xô đã tổ chức nhóm họp
tại Postdam của Đức. Hội nghị Postdam đã ra Tuyên bố chung ngày 26/7/1945, ấn
định thể thức giải giáp quân đội Nhật Bản sau khi chiến tranh Thái Bình Dương kết
thúc.
Đối với Việt Nam, để giải giáp quân đội Nhật, ba nước
Anh-Mỹ-Liên Xô đã quyết định chia Việt Nam thành 2 khu vực từ vĩ tuyến 16.
Theo đó, phía Trung Quốc do phái đoàn Cộng hòa Trung
Hoa (Quốc dân đảng) có nghĩa vụ giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 ra Bắc,
trong đó có quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam tọa lạc tại vĩ tuyến 16: nhóm Lưỡi
Liềm phía Tây Nam tại vĩ độ 16 độ 30’ Bắc và nhóm An Vĩnh phía Đông Bắc tại vĩ
độ 16 độ 50’ Bắc. Trong khi đó, quân đội Anh có nghĩa vụ giải giáp quân đội
Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, kể cả quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ
tuyến từ 12 độ đến 7 độ Bắc, tính từ Cam Ranh xuống tỉnh Cà Mau.
Từ 4-8/9/1951, Hội nghị San Francisco được tổ chức, có
đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký hòa ước hòa bình với Nhật Bản. Phái
đoàn Quốc gia Việt Nam đại diện cho Nhà nước Việt Nam do Thủ tướng kiêm Ngoại
trưởng Trần Văn Hữu thuộc Chính phủ Bảo Đại làm trưởng đoàn cũng được mời tham
gia hội nghị.
Trong phiên họp toàn thể thứ hai của hội nghị San Francisco (ngày
5/9/1951), đại biểu Liên Xô là Andrei A. Gromyko đã chỉ trích tính bất hợp pháp
và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh. Trên thực tế không chỉ riêng
Anh mà Mỹ cũng đưa ra những ý kiến bất hợp lý.
Đó là việc Mỹ đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để
hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Trong đó, có điểm thứ 6 đề
nghị trao trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ của Việt Nam cho
Trung Quốc. Tuy nhiên, Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này với 48 phiếu chống vì chủ
quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc về Nhà nước Việt Nam từ
lâu.
Tuyên bố chủ quyền
Tại San Francisco năm 1951, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt
Nam
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cụ thể, ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng
Trần Văn Hữu đã ra tuyên bố xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao của các nước thành viên
Liên hợp quốc: “Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội để dập tắt những mầm
mống bất hòa, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam.”
Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào
biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn tham dự hội nghị, không có một phái đoàn
nào phản đối thể hiện bằng văn bản.
Về khía cạnh pháp lý, việc công bố khẳng định chủ
quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước
các quốc gia thành viên Liên hợp quốc cho thấy từ năm 1951 các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới đương nhiên thừa nhận là
lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Sự kiện 92% các quốc gia thành viên Liên hợp quốc thừa
nhận chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
có giá trị tuyệt đối phù hợp với luật pháp quốc tế, buộc các quốc gia khác phải
thừa nhận, kể cả đối với những quốc gia và vùng lãnh thổ không tham dự Hội nghị
như Trung Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan.
Việc hòa ước San Francisco tách riêng Đài Loan, Bành
Hồ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thành hai khoản riêng biệt (b, f) tự nó
đã bao hàm ý nghĩa không công nhận chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Tại khoản f quy định: “Nhật Bản từ bỏ tất cả các
quyền, tước hiệu và đòi hỏi đối với quần đảo Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa
(Paracel).”
Rõ ràng, việc phái đoàn Việt Nam đưa ra
quyên bố chủ quyền là sự kiện hết sức quan trọng. Đây được xem là cơ sở pháp lý
để Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền ở Trường Sa và Hoàng Sa tại các hội
nghị, diễn đàn quốc tế và khu vực cũng như đưa vào hồ sơ pháp lý để đấu tranh
với các bên có yêu sách tại tòa án quốc tế./.
Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014
Bản tuyên ngôn độc lập bất hủ

Tượng đài Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt
Nguồn: Internet
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế
cư
Tiệt nhiên định
phận tại thiên thư
Như hà ngịch lỗ
lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành
khan thủ bại hư
Bản dịch:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước
Nam, vua Nam
ở
Rành rành định
phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc
sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị
đánh tơi bời.
Bài thơ của Lý Thường Kiệt là một bản Tuyên
ngôn độc lập bất hủ, là lời tuyên bố đanh thép khẳng định chủ quyền lãnh thổ
nước Nam.
Bài thơ còn thể hiện ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
Trong bối cảnh tình hình căng thẳng ở Biển
đông, Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trong vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, HL sưu tầm bài thơ của Lý Thường Kiệt - Bản
Tuyên ngôn độc lập- để các bạn tham khảo và mong được nhận được bình luận của
các bạn.
(Nguồn hình ảnh: Internet)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






























